Ông Nguyễn Văn A có một người con là Nguyễn Văn C (C sinh năm 1990). Năm 2006, C có quan hệ chung sống như vợ chồng với chị H và hai người đã có một người con chung là cháu D (D sinh vào tháng 01 năm 2007). Vào tháng 9/2007, C mất vì tai nan giao thông (khi này C chỉ mới 17 tuổi).

 

Trước đó, vào năm 2006, vì giận con trai nên ông A đã lập di chúc tại Phòng công chứng số 1, TpHCM, theo nội dung di chúc thì ông để lại toàn bộ di sản của mình cho bà Trần Thị B là một quá phụ cùng khu phố, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

 

Đến tháng 8/2008, ông A mất.

 
Như vậy, cháu D có được thừa kế thế vị không?
 

(Hình ảnh chỉ mang tính minh họa, nguồn: internet)

Theo quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) trong trường hợp người chết để lại di chúc thì quyền định đoạt di sản của họ sẽ bị hạn chế, cụ thể di sản của người để lại thừa kế phải trích ra cho mỗi chủ thể sau một kỷ phần thừa kế bằng 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật, bao gồm: con chưa thành niên, con đã thành niên mà không có khả năng lao động, vợ (hoặc chồng), cha, mẹ.
   
Về mặt lý luận cần phải nhấn mạnh rằng các chủ thể trên đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất (theo pháp luật) của người để lại di sản. Đồng thời, giữa họ phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng trực tiếp lẫn nhau trong quan hệ gia đình. Cụ thể là:

- Vợ chồng khi còn trong quan hệ hôn nhân có nghĩa vụ giúp đỡ nhau phát triển trong đó bao gồm cả nghĩa vụ về vật chất và tinh thần, vì vậy trong quan hệ hôn nhân sẽ không thể có chuyện mà một người thì sống trong cảnh sung túc còn người còn lại thì sống trong cảnh bần hèn.
 
- Quan hệ giữa cha - mẹ và con trong quan hệ gia đình cũng bao gồm cả quan hệ nuôi dưỡng, theo đó cha - mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên, con thành niên mà không có khả năng lao động ... (trong trường hợp quy định của luật chưa tầm soát hết các trường hợp, theo quan điểm cá nhân trong trường hợp này đối tượng cần phải được mở rộng và quy định chặt chẽ hơn, cụ thể ngoài con chưa thành niên thì đối tượng được hưởng kỷ phần thừa kế bắt buộc phải bao gồm con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình vì tất cả các đối tượng này theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì cha - mẹ đều phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng và đương nhiên nghĩa vụ này chỉ được duy trì cho đến khi nào những người con này vẫn còn rơi vào hoàn cảnh không có tài sản để có thể tự lo cho đời sống cá nhân).
 
- Và ngược lại, con cũng có nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ đặc biệt là khi cha mẹ già yếu, ốm đau, bệnh tật (Trong nghĩa vụ nuôi dưỡng của con đối với cha - mẹ, tuy pháp luật không có quy định một cách cụ thể nhưng có lẽ nghĩa vụ này chỉ có thể bắt buộc đối với con đã thành niên mà không thể bắt buộc đối với con chưa thành niên dù cho người con chưa thành niên này có tài sản và cha - mẹ đang lâm vào cảnh sống khó khăn, như vậy việc người con chưa thành niên có thực hiện việc nuôi dưỡng cha mẹ trong lúc này hay không là hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện)      
Như đã phân tích ở trên cho thấy các chủ thể trong mối quan hệ: cha - mẹ - con, và vợ - chồng, là những người có nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng nhau, nếu vì lý do nào đó họ không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình hoặc khi họ trốn tránh trách nhiệm nuôi dưỡng của mình thì họ phải thực hiện nghĩa vụ hoặc trách nhiệm cấp dưỡng. Còn các chủ thể còn lại trong quan hệ gia đình như anh - chị - em ruột, ông - bà - cháu, thì nghĩa vụ của họ chỉ là nghĩa vụ thứ yếu, nghĩa là các nghĩa vụ này chỉ phát sinh nếu các chủ thể có nghĩa vụ trực tiếp không thể hoặc không có khả năng thực hiện được nghĩa vụ nuôi dưỡng của mình ...
 
(Lưu ý rằng pháp luật không có sự phân biệt giữa con nuôi và con ruột do đó các nghĩa vụ này phát sinh trong quan hệ cha - mẹ nuôi và con nuôi hoàn toàn giống với nghĩa vụ phát sinh trong quan hệ cha - mẹ ruột và con ruột, còn đối với quan hệ giữa con riêng của vợ/chồng với cha dượng/mẹ kế thì các nghĩa vụ này chỉ có thể phát sinh khi họ sống chung với nhau)
 
Về vấn đề Điều 669 BLDS 2005 quy định các chủ thể này được hưởng một kỳ phần thừa kế mà không phụ thuộc vào di chúc theo quan điểm cá nhân là xuất phát từ nghĩa vụ nuôi dưỡng này giữa các thành viên trong gia đình, cũng vì lẽ đó, người cha chỉ có nghĩa vụ trực tiếp để nuôi dưỡng người con (Nghĩa vụ này là nghĩa vụ gắn liền với quyền nhân thân nên không thể chuyển giao, cũng vì thế mà nghĩa vụ cấp dưỡng không thể bị thay thế và càng không thể được chuyển giao cho người khác), nếu người cha mất đi, nghĩa là người cha không còn có khả năng để thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng của mình và đương nhiên nhĩa vụ cấp dưỡng cũng sẽ kết thúc ngay lúc nó vừa phát sinh ... Như vậy, nếu người cha không để lại di chúc thì kỷ phần thừa kế mà người con nhận được từ việc chia thừa kế theo pháp luật có thể được coi là phần cấp dưỡng một lần của người cha để lại cho người con (trong trường hợp này đang nhắc đến người con với vai trò là chủ thể mà người cha phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng). Tuy nhiên, vì một lý do nào đó, mà người cha tướt bỏ toàn bộ phần thừa kế của người con bằng một bản di chúc, thì việc này sẽ tạo ra những điểm bất hợp lý trong việc duy trì điều kiện sống một cách bình thường của người con. Và cùng những quan điểm lập luận như vậy đối với các chủ thể khác.

 

Như vậy, một lần nữa có thể khẳng định trong điều luật này quyền hưởng kỳ phần này chỉ thuộc về các chủ thể theo luật định, nếu các chủ thể này không còn sống vào thời điểm mở thừa kế thì những phần này sẽ được định đoạt theo di nguyện trong di chúc của người để lại thừa kế. Mà không thể phát sinh việc thừa kế thế vị của người cháu đối với khối di sản này, vì người ông và người cháu không có nghĩa vụ nuôi dưỡng trực tiếp với nhau.  

 
Về chia thừa kế trong trường hợp này thì di sản chỉ có thể chia cho các chủ thể là cha - mẹ của ông A (nếu họ còn sống vào thời điểm mở thừa kế), vợ của ông A (nếu còn sống vào thời điểm mở thừa kế), các người con khác của ông A (nếu họ còn sống vào thời điểm mở thừa kế). Mỗi kỷ phần sẽ bằng 2/3 x (giá trị một suất thừa kế theo pháp luật). Trong đó, giá trị một suất thừa kế theo pháp luật sẽ bằng (tổng di sản của ông A trừ các khoảng nghĩa vụ của ông A) : (Tổng số các chủ thể ở hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật còn sống vào thời điểm mở thừa kế và các người con đã mất cùng lúc hoặc trước lúc mở thừa kế). Phần còn lại của di sản sau khi chia theo quy định tại Điều 669 BLDS 2005 sẽ được giải quyết theo di chúc của ông A.

Một ví dụ khác để làm rõ thêm vấn đề này: Ông A có di sản là 1 tỷ. Ông A có vợ còn sống, D là con còn sống, C là con đã chết (C chết trước A và vào thời điểm A chết, nếu C còn sống thì chỉ vừa tròn 16 tuổi, ngoài ra C đã có một người con là D) cha - mẹ của ông A đều đã chết trước A. Ông A không có nghĩa vụ nào phải thanh toán. A để lại di chúc tặng toàn bộ tài sản cho B là người không có quan hệ gia đình với A. Tính giá trị thừa kế mỗi người được nhận.

- Giá trị 1 suất thừa kế =1 tỷ : 3
- Kỷ phần thừa kế mà vợ và D nhận được sẽ bằng nhau = 2/3 x (1 tỷ :3)
- Giá trị mà B được hưởng = 1 tỷ - 2 x [2/3 x(1 tỷ :3)]
 

NGUYỄN TIẾN LỘC

Chuyên viên pháp lý