Ông Trần Văn A đã kết hôn với bà Nguyễn Thị B, hai người có một người con chung là Trần Văn F. Nhưng trước đó, Ông A đã nhận một người con nuôi là cháu C, về sau C cưới vợ và có một người con là D. Năm 2009, C chết vì tai nạn lao động.

 

Năm 2010, ông A chết vì tai nạn giao thông, và bà B chết vào năm 2012 vì bạo bệnh, cả hai người đều không để lại di chúc. Cha, mẹ của ông A và bà B đều đã chết trước 2 người.

 

Chia di sản thừa kế trong trường hợp trên.

 

(Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa, nguồn: Internet)

Vì C chết vào năm 2009, nên việc ông A nhận C làm con nuôi phải diễn ra trước thời điểm Luật Nuôi con nuôi 2010 có hiệu lực (Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực vào ngày 01/01/2011), theo đó việc nuôi con nuôi vào thời điểm này được quy định tại Chương VIII Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (LHNGĐ 2000). Cụ thể "Một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của hai người là vợ chồng" (Khoản 2 Điều 68).

 

Việc ông A nhận C làm con nuôi diễn ra trước khi ông A kết hôn với bà B, và vì pháp luật không cấm người độc thân nhận con nuôi do đó, việc nhận con nuôi của ông A là hoàn toàn hợp pháp. Sau đó, ông A tiến hành kết hôn với bà B, như vậy bà B có thể trở thành mẹ nuôi của C hay không thì đây là vấn đề mà trong quy định của pháp luật về nuôi

con nuôi chưa có những quy định rõ ràng. Tuy nhiên dựa trên quy định tại Khoản 2 Điều 68 LHNGĐ 2000 và Khoản 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010 thì không thể có chuyện một người có thể làm con nuôi của hai người cùng lúc mà hai người này không có quan hệ hôn nhân hay nói cách khác một người chỉ có thể làm con nuôi của hai người là vợ chồng. Mặc khác, quan hệ vợ chồng của họ đã phải tồn tại vào thời điểm tiến hành nhận con nuôi. Như vậy có thể thấy, theo quy định của pháp luật thực định thì ông C chỉ có thể là con nuôi của ông A mà không thể là con nuôi của bà B.

 

Theo quy định tại Điều 76 LHNGĐ 2000 thì quan hệ nuôi con nuôi chỉ có thể chấm dứt khi đã có quyết định có hiệu lực của tòa án (trong trường hợp này C chết vào năm 2009, thời điểm này Luật Nuôi con nuôi 2010 chưa có hiệu lực nên quan hệ nuôi con nuôi áp dụng quy định tại chương VIII LHNGĐ 2000). Ngoài ra cần phải nói thêm rằng, tòa án chỉ ra quyết định chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi khi người có quyền có yêu cầu và phải có một trong các căn cứ luật định tại Điều 76 LHNGĐ 2000. Như vậy, có thể thấy việc C chết vào năm 2009 và A chết vào năm 2010 không đương nhiên làm chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi giữa A và C, do đó quan hệ nuôi con nuôi giữa A và C vẫn tồn tại đến thời điểm mở thừa kế.

Theo quy định tại Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) thì cha nuôi và con nuôi được thừa kế di sản của nhau theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 BLDS 2005. Như vậy C là hàng thừa kế thứ nhất của A nên C được hưởng di sản thừa kế của A nhưng vì C chết trước A nên theo quy định tại Điều 677 BLDS 2005 thì con của C sẽ được hưởng di sản thừa kế thế vị, suất thừa kế mà D (con C) được hưởng bằng suất thừa kế mà C được hưởng từ A. Và ngược lại nếu C có tài sản thì ông A cũng được hưởng di sản thừa kế của C (vì C chết trước A).

Tuy nhiên, vì giữa bà B và C không hình thành quan hệ mẹ nuôi - con nuôi nên không phát sinh quan hệ thừa kế lẫn nhau giữa bà B và C.
 
Như vậy, có thể kết luận về quan hệ thừa kế trong tình huống trên như sau:

Vì các chủ thể khi chết không để lại di chúc nên việc phân chia di sản thừa kế sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật (Điều 675 BLDS 2005). Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại thừa kế chết (Khoản 1 Điều 633 BLDS 2005). Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác (Điều 634 BLDS 2005). Và những người hưởng thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (Điều 637 BLDS 2005) Cụ thể:

- 2009, C chết: DI SẢN của C (bao gồm: tài sản riêng của C, tài sản chung của C và vợ C, và các tài sản chung của A với các chủ thể khác, và di sản thừa kế C nhận được từ cha - mẹ ruột của mình nếu họ đã chết trước C) sau khi trừ đi các khoản nghĩa vụ mà C phải thực hiện sẽ chia cho: Vợ C, con ruột của C (là D), cha nuôi của C (là A), và cha - mẹ ruột của C (nếu họ còn sống).

- 2010, A chết: DI SẢN của A (bao gồm: tài sản riêng của A, tài sản chung của A với B, di sản thừa kế mà A nhận được từ C, và các tài sản chung của A với các chủ thể khác) sau khi trừ đi các khoản nghĩa vụ mà A phải thực hiện sẽ chia cho: Vợ A (là bà B), con của C (là D), con ruột của A (là F).

- 2012, B chết: DI SẢN của B (bao gồm: tài sản riêng của B, di sản thừa kế mà B nhận được từ A, và các tài sản chung của B với các chủ thể khác) sẽ do F (con ruột của B) nhận hết sau khi trừ các khoản nghĩa vụ của B phải thực hiện.

NGUYỄN TIẾN LỘC

Chuyên viên pháp lý