Cướp và cướp giật tài sản là hai tội danh  độc lập trong quy định của Bộ Luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS 1999)

 

(Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa, nguồn: Internet)

Về mặt lý luận thì cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái phép; theo đó, đối tượng tác động của người phạm tội là các vật nhỏ gọn, hoặc các vật dễ di chuyển...
 
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS 1999) thì cướp tài sản là việc người phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

 

Như vậy, có thể thấy ở cả hai tội trên thì dù có ý thức hay không có ý thức thì hành vi phạm tội của tội phạm luôn có nguy cơ trực tiếp đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại, và đây là hai khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ.

Ông A giật đồ bà B làm bà B té chết. Tội gì?
   
Việc A thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đang trong sự quản lý trực tiếp của bà B một cách trái phép là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội, vì nó trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản - khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bà B, ông A là người đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng vì lòng tham A vẫn cố ý thực hiện hành vi của mình. Như vậy, có thể thấy qua hành vi phạm tội đã thể hiện ông A ý thức rất rõ mục đích thực hiện hành vi phạm tội của mình là mong muốn chiếm đoạt được tài sản trong sự quản lý của bà B.

Sau lúc bị ông A tác động (giật tài sản) dẫn đến việc bà B hoảng loạn, rơi vào trạng thái mất kiểm soát và bị té ngã dẫn đến tử vong; mặt khác, ông A không có ý thức trong việc dùng vũ lực hoặc các hành vi khác để khiến nạn nhân rơi vào trạng thái mất khả năng chống trả, do đó hành vi của ông A không chứa đựng khả năng dẫn đến cái chết của bà B. Mà nguyên nhân dẫn đến cái chết của bà B thuộc về yếu tố khách quan nằm ngoài ý chí của người phạm tội. Mặc dù, trước khi thực hiện hành vi phạm tội ông A có nghĩa vụ nhận thức rõ tính chất của hành vi mà ông A gây ra là có khả năng tác động đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân, nhưng vì quá tự tin, ông cho rằng với tính chất của hành vi của mình sẽ không gây ra cái chết của bà B và hậu quả xảy ra là nằm ngoài mong muốn của ông A.

Từ những nhận định trên cho thấy, ông A đã cố ý thực hiện hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản của bà B, nhưng lại vô ý trong việc gây ra cái chết của bà B; tuy nhiên với việc hành vi của ông A đã gây ra cái chết cho bà B nên đây trở thành tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm a, Khoản 4, Điều 136 BLHS 1999.

Ông A dùng dao chém bà B cướp xe. Bà B thương tật 70%. Tội gì?
   
Việc A thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đang trong sự quản lý trực tiếp của bà B một cách trái phép là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội, vì nó trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản - khách thể được pháp luật hình sự bào vệ. Khi thực hiện hành vi cướp tài sản của bà B, ông A là người đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng với lòng tham của mình B vẫn cố ý thực hiện hành vi của mình. Như vậy, có thể thấy qua hành vi phạm tội đã thể hiện ông A ý thức rất rõ mục đích thực hiện hành vi phạm tội của mình là mong muốn chiếm đoạt được tài sản trong sự quản lý của bà B.
   
Về việc ông A dùng dao chém bà B và gây ra thương tích 70% cần phải phân biệt thành hai trường hợp:
   
Trường hợp 1: A vô ý với hậu quả là thương tật của bà B
   
Để đạt được mục đích của mình chiếm đoạt được tài sản đang trong sự quản lý của bà B, A đã có ý thức dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc dùng các hành vi khác khiến nạn nhân rơi vào trạng thái mất khả năng chống cự. Cụ thể, khi thực hiện hành vi, A không có ý thức trong việc gây ra hậu quả trên cho bà B, mà A chỉ có mong muốn khiến bà B rơi vào trạng thái mất khả năng chống cự để thuận tiện trong việc chiếm đoạt tài sản của bà, nhưng vì những lý do khách quan nằm ngoài mong muốn của ông A mà hậu quả đã xảy ra và khiến bà B bị thương tật 70%. Mặc dù, trước khi thực hiện hành vi phạm tội ông A có nghĩa vụ nhận thức rõ tính chất của hành vi mà ông A gây ra là có khả năng tác động đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân, nhưng vì quá tự tin, ông cho rằng với tính chất hành vi của mình sẽ không gây ra thương tật cho bà B và hậu quả xảy ra là nằm ngoài mong muốn của ông A.
   
Từ những nhận định trên cho thấy, ông A đã cố ý thực hiện hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản của bà B một cách trái phép, nhưng lại vô ý trong việc gây ra thương tật cho bà B; tuy nhiên với việc hành vi của ông A đã gây ra thương tật cho bà B nên đây trở thành tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm a, Khoản 4, Điều 133 BLHS 1999.
   
Trường hợp 2: A cố ý trong việc gây ra thương tật cho bà B
   
Vì A có ý thức trong việc gây ra thương tật cho nạn nhân nên tùy thuộc vào tính chất của hành vi phạm tội mà A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích.
   
Như vậy trong trường hợp này A thuộc trường hợp phạm nhiều tội: Thứ nhất là tội cướp tài sản (Theo quy định tại Khoản 1, Điều 133 BLHS 1999); Thứ hai là tội giết người (theo quy định tại Điều 93 BLHS 1999) hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích (Theo Khoản 3 Điều 104 BLHS 1999).

NGUYỄN TIẾN LỘC

Chuyên viên pháp lý